20/7/15

Dinh dưỡng xử trí các triệu chứng ở người nhiễm HIV


Biếng ăn

- Kích thích cảm giác thèm ăn bằng cách ăn những thực phẩm ưa thích
- Ăn thực phẩm giàu năng lượng, ăn từng lượng nhỏ, chia làm nhiều bữa
- Tránh ăn thực phẩm nặng mùi vị
* Phòng ngừa và điều trị: Nếu ăn không ngon là do ốm đau thì cần đi khám.

Tiêu chảy

- Uống nhiều nước (nước đun sôi để nguội, nước trà loãng, nước canh, nước trái cây pha loãng…) để phòng mất nước
- Uống sữa không béo nếu có vấn đề về sữa
- Ăn thực phẩm nhiều chất xơ (kê, chuối, đậu đỗ, đậu lăng) để giữ nước
- Ăn thực phẩm lên men như sữa chua
- Ăn thực phẩm dễ tiêu như gạo, bánh mì, kê, cháo ngô, khoai tây, khoai lang, bánh quy
- Ăn làm nhiều bữa nhỏ
- Ăn trái cây, rau mềm như chuối, bí, chuối xanh nấu chín nghiền, khoai lang nghiền, cà rốt nghiền
- Tiếp tục ăn sau khi hết bệnh để hồi phục cân nặng và chất dinh dưỡng bị mất
- Đun sôi hay hâm nóng thức ăn nếu tiêu chảy có liên quan đến giảm hấp thu chất béo
- Tránh hoặc giảm sử dụng sữa, thức ăn rán, dầu mỡ, bơ, thực phẩm gây đầy hơi như cải bắp, hành, nước uống có ga.
- Tránh ăn trái cây thuộc loại cam quýt… có vị mạnh như cam, chanh vì sẽ kích thích dạ dày
* Phòng ngừa và điều trị: Uống nước chín, rửa tay bằng nước và xà phòng trước khi cầm, chế biến thực phẩm, ăn hay cất trữ thực phẩm, sau khi đi vệ sinh hay sau khi lau rửa cho trẻ đi vệ sinh.

Sốt

- Uống nhiều nước, uống nước chanh, ổi, cam…
- Ăn súp cao năng lượng và chất dinh dưỡng nấu từ ngô, khoai tây, cà rốt…
- Ăn làm nhiều bữa nhỏ, càng thường xuyên càng tốt
* Phòng ngừa và điều trị: Uống nhiều nước, nhất là nước đun sôi để nguội để tránh mất nước. Tắm nước mát, tăng cường nghỉ ngơi, uống thuốc hạ sốt kèm bữa ăn vào buổi sáng, chiều, tối. Đi khám nếu có các triệu chứng như không tỉnh táo, đau nhiều, vàng mắt, tiêu chảy nặng, co giật hay sốt kéo dài vài ngày, uống hạ sốt không giảm.

Buồn nôn, nôn (ói)

- Ăn làm nhiều bữa nhỏ, thường xuyên
- Ăn canh, cháo không đường, trái cây như chuối
- Ăn thức ăn nhạt, khô như bánh quy để làm se dạ dày
- Uống trà thảo dược và nước chanh pha nóng
- Tránh ăn thức ăn nhiều gia vị, béo
- Tránh uống cà phê, trà, rượu bia
- Tránh uống nhiều nước, như nước đun sôi để nguội
* Phòng ngừa và điều trị:Tránh để bụng đói vì sẽ làm tăng cảm giác buồn nôn. Tránh nằm sau khi ăn mà nên đợi ít nhất 20 phút sau ăn. Nghỉ ngơi ngay sau khi ăn.

Tua miệng

- Ăn thức ăn mềm, nghiền nhỏ như cà rốt, trứng trộn, khoai tây nghiền, chuối, canh, cháo.
- Ăn thức ăn nguội.
- Tránh ăn nhiều gia vị, mặn hay dính vì dễ làm đau miệng.
- Tránh ăn thức ăn ngọt vì làm tăng lên men
- Tránh trái cây, nước thuộc loại cam quýt có vị mạnh vì gây đau miệng
- Uống nhiều nước. Tránh uống rượu bia.
* Phòng ngừa và điều trị: Đi khám thường xuyên. Ăn bằng thìa hay bát nhỏ. Ngửa đầu khi ăn cho dễ nuốt. Súc miệng bằng nước muối ấm sau khi ăn để giảm kích thích và vệ sinh vùng tổn thương tránh lên men.

Táo bón

- Ăn nhiều thức ăn có chất xơ như ngô, bánh mì, rau xanh, trái cây rửa sạch để vỏ.
- Uống nhiều nước
- Tránh ăn thức ăn nấu sẵn, mịn
* Phòng ngừa và điều trị: Tránh tẩy ruột bằng cách bơm thụt hay dùng thuốc. Uống nhiều nước, như nước đun sôi để nguội.

Thiếu máu

- Ăn nhiều thức ăn nhiều sắt (thịt, cá, trứng, gan, rau có lá xanh đậm như rau ngót, rau muống, các loại đậu - đỗ như đậu xanh, đậu lăng, lạc, hạt có dầu, ngũ cốc chế biến)
- Uống bổ sung sắt theo chỉ định của thầy thuốc
* Phòng ngừa và điều trị: Uống viên sắt hàng ngày kèm các chất nhiều Vitamin C như cà chua, uống nước cam để tăng hấp thụ theo chỉ định. Uống nhiều nước để tránh táo bón. Điều trị sốt rét, giun móc.

Teo cơ

- Tập nâng tạ để tăng cường cơ bắp
- Ăn làm nhiều bữa nhỏ hơn
- Ăn nhiều hơn, thường xuyên hơn
- Cải thiện chất lượng, số lượng bữa ăn bằng cách ăn nhiều loại thực phẩm
- Tăng lượng chất đạm trong bữa ăn
- Tăng khẩu phần thực phẩm nhiều tinh bột từ ngũ cốc và các loại lương thực khác
* Phòng ngừa và điều trị:Tập thể dục để tăng tiêu hóa chất đạm.

Chướng bụng, đầy hơi

- Ăn làm nhiều bữa nhỏ, thường xuyên
- Tránh ăn uống thực phẩm gây đầy hơi như cải bắp, nước có ga
- Uống nhiều nước
* Phòng ngừa và điều trị: Ăn cách xa giờ ngủ để thức ăn kịp tiêu hóa

Nhiễm lao

- Ăn thức ăn nhiều đạm, năng lượng, sắt và Vitamin theo chỉ định của bác sĩ điều trị
* Phòng ngừa và điều trị: Đi khám ngay. Nếu đang dùng thuốc Isoniazid thì bổ sung Vitamin B6 để tránh thiếu Vitamin B6

Ăn không ngon hay khẩu vị bất thường

- Ăn làm nhiều bữa nhỏ, thường xuyên
- Dùng các loại chất tăng mùi vị như muối, gia vị, rau thơm, chanh
- Nhai kỹ, đưa thức ăn xung quanh miệng để kích thích vị giác
* Phòng ngừa và điều trị: Tránh thói quen ăn mặn, ăn nhiều gia vị. Nên ăn những thực phẩm còn nóng, ấm. Không đựng thức ăn trong những vật dụng bằng kim loại.

Bất thường mỡ máu

- Ăn nhiều trái cây, rau, cá, thức ăn nguồn gốc thực vật có acid béo Omega-3
- Giảm ăn mỡ, tinh bột mịn, chất đường và các chất béo đã bão hòa
* Phòng ngừa và điều trị: Tập thể dục thường xuyên. Bỏ thuốc lá. Giảm hay bỏ rượu bia. Duy trì trọng lượng cơ thể hợp lý (BMI từ 20-25 kg/m2).

Xem bài viết...
23/4/15

Cà phê và bệnh ung thư


Cà phê có gây bệnh ung thư hay không?

Cà phê không gây bệnh ung thư

Hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy rằng cà phê hay chất caffeine chứa trong cà phê gây nên bệnh ung thư. Trước đây cũng đã từng có ý kiến rằng có mối liên quan giữa cà phê và bệnh ung thư tụy, nhưng các nghiên cứu hiện nay đều bác bỏ điều đó. Hầu hết các nghiên cứu với các bằng chứng đều cho thấy rằng không có mối liên quan rõ ràng giữa cà phê với bệnh ung thư tụy hay các loại ung thư nào khác.

Cà phê giúp phòng ngừa ung thư

Một dưỡng chất thực vật được tìm thấy trong cà phê là methylxanthine có thể gây ra khối u đau ở vú, triệu chứng của bệnh loạn sản vú (một bệnh lành tính ở vú) ở một số phụ nữ. Hiện nay thì không có bằng chứng nào cho thấy cà phê gây tăng nguy cơ gây bệnh ung thư vú hay các loại ung thư nào khác. Thậm chí có một nghiên cứu thấy rằng caffeine có thể bảo vệ chống lại ung thư vú ở phụ nữ mãn kinh.

Cà phê giúp tăng tỉ lệ sống còn ở bệnh nhân ung thư

Một nghiên cứu cắt ngang nhỏ đã xem xét việc bổ sung cà phê trong quá trình hóa tri liệu có làm tăng tỉ lệ sống còn ở bệnh nhân ung thư hay không. Tuy nghiên cứu này không có nhóm chứng nhưng kết quả cho thấy caffeine giúp tăng tỉ lệ sống còn. Cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để xem xét việc kết hợp caffeine với các loại thuốc hóa trị trong điều trị ung thư.

Các tác dụng phụ của cà phê

Caffein trong cà phê có tác dụng lợi tiểu, tác dụng này có thể kéo dài vài giờ sau khi uống cà phê, do đó uống quá nhiều cà phê có thể gây mất nước. Mặt khác, người bệnh ung thư cần thêm năng lượng sẽ không có được lượng calori nào từ việc uống cà phê, trừ phi đó là cà phê được pha thêm chất đường và/hoặc chất béo. Uống một lượng lớn cà phê có thể khiến cho dạ dày cồn cào và khó chịu.

Mối liên quan giữa cà phê và nguy cơ ung thư

Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu cố gắng tìm ra mối liên quan giữa lượng cà phê uống vào và nguy cơ ung thư, nhưng hầu hết nghiên cứu đều không tìm được bằng chứng nào cho thấy có sự gia tăng nguy cơ ung thư ở những người uống cà phê. Thậm chí nhiều nghiên cứu còn cho thấy cà phê có thể giúp phòng ngừa nhiều bệnh ung thư khác nhau như ung thư da, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư vú, ung thư đại tràng, ung thư gan... Các nhà nghiên cứu cho rằng, sở dĩ cà phê có tác dụng này là do chứa hàm lượng cao các chất chống oxy hóa, điển hình như acid caffeic và acid chlorogenic có trong cà phê có thể giúp loại bỏ các gốc tự do, giúp phòng ngừa bệnh ung thư.


Tài liệu tham khảo
1) Nutrition for Cancer Survivors - American Cancer Society, Second Edition



Xem bài viết...

Những nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt cho bệnh nhân ung thư


Bạn sẽ trải qua nhiều thay đổi về thể chất và tinh thần khi điều trị ung thư. Ung thư có thể ảnh hưởng đến chức năng các bộ phận của cơ thể sử dụng cho việc ăn uống và tiêu hóa thức ăn. Bệnh cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng dung nạp một số loại thực phẩm và cách cơ thể sử dụng chất dinh dưỡng. Sụt cân rất phổ biến ở bệnh nhân ung thư do việc giảm sự ngon miệng do bệnh ung thư hay quá trình điều trị bệnh gây ra hoặc cảm giác tâm thần chán nản và suy nhược. Đôi khi, bạn khó có thể ăn các loại thực phẩm giống nhau và cùng những lượng thực phẩm như nhau bạn từng ưa thích trước đó.

Tình trạng ăn ít đi rất thường gặp trong suốt thời gian này, nhưng ăn được nhiều hơn cũng không phải không phổ biến. Thật ra, tăng cân còn thậm chí nhiều hơn sụt cân trong một số loại bệnh ung thư (như trong giai đoạn điều trị phụ ở những bệnh nhân ung thư nhũ giai đoạn đầu). Ở những trường hợp này, một chế độ ăn kiếm soát năng lượng có thể giúp bạn cảm thấy dễ chịu hơn.

Trong suốt quá trình điều trị bệnh ung thư, bạn sẽ thấy một số thực phẩm có hương vị kém thơm ngon, kết quả là, bạn ăn những loại thức ăn này ít lại. Nhiều bệnh nhân ung thư nói rằng “đồ ăn không còn mùi vị như trước”. Bạn cũng có thể cảm thấy tương tự bởi vì việc điều trị ung thư có thể gây ra vị đắng và vị kim loại ở miệng. Cũng có một số bệnh nhân bị mất vị giác. Họ không còn thưởng thức thức ăn của họ nữa và vị giác bị thay đổi mỗi ngày. Một số loại thực phẩm thông dụng như thịt bò, thịt gà, rau củ quả, trái cây gần như vô vị. Thậm chí những thức ăn mặn hay cay cũng không có vị. Thịt bò hay thịt heo và những thực phẩm có chứa caffeine dường như đắng hơn và các món tráng miệng có thể có vị quá ngọt. Bạn cần phải thử và thay đổi món ăn cho phù hợp với khẩu vị.

Tiết chế viên, y tá hay bác sỹ sẽ tư vấn cho bạn về nhu cầu dinh dưỡng của bạn. Bạn nên ăn nhiều hơn các loại thực phẩm cao năng lượng khi đang ăn uống kém hay ăn ít đi những thực phẩm chứa nhiều chất xơ không tan khi bị tiêu chảy.


Tài liệu tham khảo
1) Cancer & Nutrition - Cancer Institute of Singapore 2015

Xem bài viết...
16/4/15

Xử trí nôn và buồn nôn ở người bệnh ung thư

“Tôi không chịu nổi mùi đồ ăn, nó khiến tôi buồn nôn.”

Buồn nôn, nôn và cảm giác no đầy bụng là những triệu chứng xảy ra sau quá trình hóa trị và xạ trị vùng đầu mặt cổ, vùng bụng và vùng chậu. Không phải tất cả bệnh nhân đều gặp phải những triệu chứng này và các triệu chứng không giống nhau ở mỗi người. Buồn nôn và nôn thường là những triệu chứng tạm thời bạn gặp phải khi điều trị. Những triệu chứng khác như căng thẳng hay lo lắng cũng ảnh hưởng đến dạ dày của bạn.

Khi thấy buồn nôn, bạn cần đến gặp bác sỹ. Trong những trường hợp này, cách tốt nhất là chia nhỏ các bữa ăn ra. Nhờ bác sỹ kê toa thuốc chống buồn nôn hay ói và uống những loại thuốc này sau khi ăn từ 30 phút đến 1 tiếng đồng hồ để thuốc phát huy hiệu lực. Nhớ ăn uống lại nhiều hơn khi bạn cảm thấy khỏe hơn để bù lại những lúc ăn ít do gặp các triệu chứng như trên.

Bí quyết phòng tránh bị buồn nôn

a.    Có nhiều bữa ăn nhỏ trong ngày. Ăn những lượng nhỏ thức ăn thường xuyên và chậm rãi để dạ dày của bạn không cảm thấy quá no trong mỗi lần ăn.
b.    Không được bỏ bữa ăn vì dạ dày trống sẽ càng làm tăng cảm giác buồn nôn. Nếu phải đợi chờ trong một khoảng thời gian dài trước khi điều trị hay đến gặp bác sỹ, bạn hãy mang theo bên mình các thức uống dinh dưỡng bổ sung hay các bữa phụ.
c.    Ăn nhiều, đầy đủ và đa dạng thực phẩm vào thời điểm bạn cảm thấy khỏe nhất trong ngày, thường vào buổi sáng.
d.    Nếu cảm thấy không khỏe vào buổi sáng, có thể ăn các loại thức ăn khô như bánh quy giòn hay bánh mì nướng trước khi ra khỏi giường
e.    Một ít đồ ăn có vị mặn hay chua như bánh quy giòn, mận chua hay xoài ngâm có thể làm giảm cảm giác buồn nôn khó chịu
f.    Một số biện pháp khắc phục truyền thống như gừng và vỏ cam có thể làm mất đi cảm giác buồn nôn. Có thể sử dụng gừng sấy khô, vỏ cam sấy khô hay trà gừng
g.    Nếu có thể, không đến gần khu vực nấu nướng vì mùi thức ăn nóng có thể làm tăng cảm giác buồn nôn. Thức ăn ở nhiệt độ phòng hay đồ ăn lạnh giúp dễ ăn hơn.
h.    Không ăn các loại thực phẩm bạn từng thích trong khi đang bệnh vì có thể bạn sẽ cảm thấy không thích ăn những loại thức ăn đó nữa
i.    Một số loại thực phẩm thường làm tăng cảm giác buồn nôn:
Thực phẩm chiên giòn, béo ngậy, dầu mỡ như gà rán, thịt nguội và mì xào giòn
Thức ăn nhiều gia vị như cà ri hay ớt
Đồ ăn quá ngọt như bánh ngọt, bánh da lợn, bánh xôi dị
Thực phẩm đồ uống có hương nồng như cà phê
Tuy nhiên, nếu bạn dung nạp được những loại thực phẩm kể trên, hãy cứ tiếp tục thưởng thức chúng.
j.    Thường xuyên dùng các loại đồ uống như thức uống lúa mạch, trà gừng, nước có ga và nước canh giữa các bữa ăn có thể giúp giảm buồn nôn và phòng tránh tình trạng mất nước
k.    Nên nghỉ ngơi sau khi ăn, nhưng không được nằm thẳng xuống ít nhất trong vòng 2 tiếng sau khi ăn. Chú ý gối đầu và vai cao hơn chân trong khi nghỉ ngơi. Vận động ngay sau bữa ăn làm chậm tiêu hóa và làm bạn thấy khó chịu hơn.

Bí quyết phòng tránh nôn ói

Nếu phòng tránh được cảm giác buồn nôn, bạn sẽ giảm được tình trạng nôn ói
a.    Nếu tình trạng nôn ói kéo dài, bạn đừng cố nuốt thêm thức ăn. Thay vào đó, nhấm nháp những lượng nhỏ thực phẩm dạng lỏng càng nhiều lần càng tốt. Nếu vẫn không thể nuốt thức ăn lỏng và tình trạng này kéo dài hơn 24 giờ, tốt nhất nên tìm gặp bác sỹ
b.    Nếu tình trạng nôn ói được kiểm soát nhưng bạn vẫn thấy buồn nôn và đầy bụng, cần phải cố gắng ăn nhiều lần các bữa ăn nhỏ. Đói bụng thường có thể làm cảm giác buồn nôn nặng thêm hay kéo dài. Bắt đầu bằng việc dùng các thức uống lạnh hay có đá. Thử các loại thức uống như nước trái cây, thức uống lúa mạch hay nước hoa cúc. Tránh các loại nước đậm đặc, quá ngọt hay nặng mùi như cà phê
c.    Một khi bạn tự tin về việc kiểm soát dịch mà không cảm thấy khó chịu, bắt đầu ăn lượng nhỏ các thực phẩm dạng rắn như bánh quy, đồ nướng hay ngũ cốc ăn sáng. Bạn cũng  có thể thử cháo yến mạch với mứt marmite hay vegemite và trái cây như táo, lê và dưa hấu
d.    Tăng lượng thực phẩm ăn vào một cách từ từ cho đến khi bạn có thể ăn một bữa ăn bình thường cân đối và hoàn chỉnh với đầy đủ các chất dinh dưỡng.

Xem bài viết...
28/1/15

Mối liên quan giữa dinh dưỡng và HIV

Dinh dưỡng và HIV

Nhiễm HIV và suy dinh dưỡng làm cho hệ thống miễn dịch bị suy yếu và khi hệ thống miễn dịch bị suy yếu sẽ làm cho tình trạng nhiễm HIV xấu đi.
Người nhiễm HIV tăng nguy cơ suy dinh dưỡng vì nhiễm trùng làm tăng nhu cầu và giảm hấp thu các chất dinh dưỡng. Thiếu dinh dưỡng làm tăng sự nhạy cảm với nhiễm trùng cơ hội và tăng mức độ tiến triển sang AIDS.

Dinh dưỡng kém và HIV

Dấu hiệu suy dinh dưỡng của người nhiễm HIV
Sút cân, teo cơ và mất lớp mỡ dưới da, thiếu Vitamin và chất khoáng, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội, tiêu chảy và kém hấp thu, kém đáp ứng với thuốc, thay đổi màu tóc, rụng tóc và những dấu hiệu thiếu dinh dưỡng khác.

Nguyên nhân suy dinh dưỡng ở người nhiễm HIV

- Giảm khẩu phần ăn vào: Khó ăn, khó nuốt vì đau họng, đau miệng. Buồn nôn, nôn (ói). Kém ngon miệng do mệt mỏi, chán nản và thay đổi vị giác. Thiếu thực phẩm. Thiếu hiểu biết về dinh dưỡng, đặc biệt là phục hồi dinh dưỡng sau bệnh. Tác dụng phụ của thuốc.
- Mất quá mức các chất dinh dưỡng do tiêu chảy và các bệnh nhiễm trùng cơ hội Nhu cầu năng lượng ở người nhiễm HIV tăng lên vì do nhiễm HIV, nhiễm trùng cơ hội và thay đổi chuyển hóa cơ thể. Vì vậy, người nhiễm HIV cần ăn nhiều hơn bình thường nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.

Xem bài viết...

Bs. Nguyễn Văn Anh

Theo dõi qua

         

Gửi thắc mắc